THA THỨ CHO NHAU
Lm. Thái Nguyên
Chúa là Đấng từ bi nhân ái (Tv 145, 8), nhưng con người thì lại
hay xét đoán và kết án. Thiên Chúa muốn khoan dung độ lượng, nhưng
con người lại đòi phải xét xử công bằng.
Nhưng
thế nào là công bằng? Làm sao có thể công bằng được khi chính nơi
mỗi người vẫn đầy những yếu đuối lỗi lầm, đầy những mâu thuẫn, đối
nghịch và bất phân minh? Nếu TC công bằng xét xử thì ai có thể được
cứu độ? “Nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?”
(Tv 130, 3). Vì thế, không lạ gì TC đã cư xử với ta bằng tình yêu
thương tha thứ, nên Ngài cũng mời gọi chúng ta cũng hãy cư xử với
anh em đồng loại bằng tình tha thứ yêu thương (Lc 17, 3b-4).
Trong cuộc sống tương quan với tha nhân,
mỗi người chúng ta vừa là chủ nợ vừa là con nợ: nợ tình thương,
nợ ân oán, nợ nghĩa nhân, nợ tiền bạc… Là chủ nợ, chúng ta được
kêu gọi hãy tha thứ cho anh em mình như TC đã tha thứ cho chúng
ta (Ep 4, 32), không phải chỉ 7 lần mà là 70 lần bảy (Mt 18, 21-22),
một sự tha thứ vô giới hạn.
Tha thứ cho người khác là một cách tha thứ
cho chính mình. Không thể tha thứ cho chính mình nếu không biết
tha thứ cho người khác.
Chân lý về việc sáng tạo và cứu độ của Thiên
Chúa cho chúng ta khẳng định rằng mọi người đều phát sinh cùng một
nguồn sống, mang chung cùng một thân phận, hướng đến cùng một mục
đích, nên không thể tách rời nhau trong mọi tương quan của đời sống
tinh thần và vật chất.
Từ đó phát xuất luật “tương lân nhân quả”,
nghĩa là mọi hành động đều nhất thiết tạo nên cùng một hậu quả trên
cả hai: chủ thể và đối tượng. Mọi hậu quả đều mang tính cách “qui
tâm hỗ tương”, là một sự qui hướng tương tác và tương ứng nội tâm:
“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tuy nhiên mức độ hậu
quả hay hiệu quả ít nhiều còn tùy thuộc vào tâm thế của chủ thể
và đối tượng. Dựa trên những nguyên lý này thì kết án người khác
đồng thời cũng là kết án chính mình.
Yêu thương tha thứ cho người khác là gặt
hái bình an hạnh phúc cho chính mình. Thái độ bất khoan dung dù
là trong trường hợp nào chăng nữa cũng là thái độ bất nhân và vô
đạo, nói lên sự oán ghét và phản bội chính bản thân mình.
Nó
không phải chỉ là hậu quả đương nhiên của luật tương lân nhân quả
mà còn là sự kết án của chính Thiên Chúa. Do đó, khi ra lệnh hành
hình người đầy tớ thiếu lòng khoan dung, Chúa Giêsu đã kết luận:
“Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như vậy, nếu
mỗi người không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18, 35).
Khi lầm lỗi, tự trong thâm tâm, ai cũng mong
mỏi được cảm thông và tha thứ. Tự bản thân mình cảm thấy càng được
xứng đáng như vậy hơn khi có những lý do sâu xa mà người khác không
thể nào hiểu được.
Mỗi trường hợp đều có những lý do riêng biệt
của nó; có thể do sự khác thường của cấu trúc tâm sinh lý; có thể
do quan niệm sống và ý thức hệ tạo nên; có thể do môi trường và
hoàn cảnh bó buộc; có thể do những căng thẳng và hỗn loạn nội tâm;
có thể do những đòi hỏi khó khăn và bức thiết của một tình trạng
hoặc của một nền giáo dục luân lý hay đạo đức truyền thống không
lành mạnh…
Sự việc xảy ra thường không đơn giản như
những gì chúng ta nhìn thấy. Sự phán đoán theo bề ngoài một cách
vội vàng hấp tấp chỉ tạo thêm oan nghiệt cho đương sự do cái nhìn
chủ quan và nông cạn. Sự hiểu biết hay phán đoán chân chính nào
thì đầu tiên cũng là thái độ cảm thông, bao dung và tha thứ để có
thể tiến tới sự đồng cảm như chính bản thân mình vậy. Đó mới thực
sự là tâm tình mà Chúa muốn đặt vào lòng chúng chúng ta như chính
sự hiện diện sống động và linh thiêng của Ngài ở nơi mỗi người (Lc
6, 37).
Không biết khoan dung tha thứ và cảm thông
với mọi người, trong mọi trường hợp, đồng nghĩa với việc không hiểu
biết gì về cuộc sống làm người với nhau. Và như vậy mọi sự hiểu
biết khác đều vô nghĩa, vì nó chẳng liên hệ hay giúp ích gì cho
cuộc sống thăng tiến con người. Sự hiểu biết tách rời với tình thương
là sự hiểu biết hủy diệt. Văn minh không tình thương là văn minh
của sự chết.
Do đó sự thiếu khoan dung không chỉ là sự
phủ nhận sự chân chính của tâm hồn mình và của người khác mà còn
là sự phủ nhận chính Thiên Chúa và tấm lòng nhân từ vô biên của
Ngài. Sự phủ nhận này chính là ngõ cụt và là sự bế tắc của mọi tương
quan, đồng thời cũng là tự khai tử chính mình và là bản án chung
thân cuối cùng của mọi diễn biến tâm linh. Phải chăng đó là điều
mà Jean Paul Sartre nói lên: “Tha nhân là hoả ngục”, vì không thể
tha thứ được hoặc vì không thể được tha thứ.
Tha thứ đã khó khăn nhưng mở miệng xin tha
thứ còn khó khăn biết mấy. Ít ai dám nhận mình lầm lỗi,
nên
cũng ít ai thành thật xin tha. Ađam - Eva chỉ đổ lỗi cho nhau mà
không hề cùng nhau nhận lỗi. Phải chăng mầm móng kêu căng đã nhập
vào con người từ thuở nào? Cơ chế phòng thủ của tự ái và danh dự
phải chăng đã làm chết nghẹt chân tâm dịu hiền và chân thật của
con người? Chính vì vậy mà nhiều khi người ta muốn được tha thứ
nhưng lại không muốn chân thành và khiêm tốn mở lòng đón nhận. Ai
cũng muốn bao phủ quanh mình bằng những bề thế và lý lẽ để làm dày
đặc thêm cái “TÔI” giả tạo của mình.
Tuy nhiên, tha thứ là phẩm tính của TC và
cũng là phẩm chất của con người, nên vẫn phải tha thứ dù người khác
không xin thứ tha. Tha thứ và xin thứ tha như một dòng lưu chuyển
làm triển nở và khơi rộng đời sống tinh thần đến vô tận. Tha thứ
không phải chỉ vì mình hay vì người khác, mà còn vì bản chất đời
sống chúng ta là máng chuyển thông nguồn ơn tha thứ là chính Thiên
Chúa trên đời sống nhân loại.
Lạy Chúa, con lãnh nhận ơn tha thứ hằng ngày
nhưng rồi mấy khi con biết thứ tha? Cứ sống như chủ nợ mà quên rằng
mình là con nợ. Nỗi ray rứt và đau đớn của con là khi không thể
tha thứ cho anh em mình vì những xúc phạm quá nặng nề của họ đối
với con. Nhưng con lại quên rằng mình cũng đã bao lần xúc phạm đến
anh em như vậy, và có thể còn hơn thế nữa. Điều này làm cho con
trở nên lố bịch và vô lý. Trái lại, con cũng cảm thấy rằng mỗi khi
tha thứ được cho người khác thì tâm hồn con nhẹ nhàng và thanh thản
an vui. Như vậy thiên đàng hay hoả ngục là ở chính tâm hồn con,
tuỳ vào tâm thế của con. Bởi vậy, mỗi khi con tha thứ là những cánh
hoa yêu thương nở rộ trong tâm hồn, như cơn gió mùa xuân dịu dàng
và êm mát đưa con vào khung trời mới của cung lòng Thiên Chúa từ
bi và nhận hậu: là nguồn an vui bất diệt mà con đang kết dệt bằng
sự yêu thương tha thứ qua mỗi ngày đời con.
Lm. Thái Nguyên